Những ngôi làng cổ nổi tiếng với hàng trăm năm lịch sử
Nằm bên dòng sông Nhuệ yên bình, làng Cựu (xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) từ lâu đã là một địa danh nổi tiếng. Dân gian gọi nơi đây là “làng người giàu”, “làng của những thợ may đệ nhất Hà thành”… Trải qua dòng chảy hơn 500 năm lịch sử, ngôi làng trở thành một không gian văn hóa đặc biệt của Thủ đô – nơi kiến trúc, nghề truyền thống và tinh thần cộng đồng gắn kết lại thành một di sản sống động.
Sự thịnh vượng của làng Cựu gắn liền với nghề may – một nghề đã thay đổi hoàn toàn diện mạo của làng từ những năm đầu thế kỷ XX. Những người đầu tiên vào nghề rồi kéo theo họ hàng, bà con, biến những bàn tay quen cày cuốc thành những người thợ may veston, đầm váy tinh xảo phục vụ tầng lớp Pháp và giới thượng lưu Hà thành. Nghề may không chỉ giúp người làng Cựu thoát nghèo mà còn đặt nền móng cho sự sáng tạo và bản lĩnh chuyển đổi kinh tế của cả một cộng đồng làng xã.

Kiến trúc trù phú chính là tấm gương phản chiếu sự thịnh vượng của cư dân làng Cựu. Từ những năm 1920 đến 1945, hàng chục ngôi nhà mang phong cách “biệt thự Pháp thu nhỏ” được dựng lên, kết hợp độc đáo giữa kiến trúc Việt và phương Tây: vòm cuốn, mái chảy, gỗ lim, mặt tiền kẻ chỉ, ban công sắt rèn và các chi tiết trạm trổ hoa lá, hạc, phượng. Sự pha trộn ấy khiến làng Cựu được mệnh danh là “làng Tây”, nhưng cái “Tây” ở đây không phải sao chép hoàn toàn, mà là sự tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo dựa trên nền tảng không gian làng Bắc Bộ.
“Lịch sử làng Cựu là lịch sử của sự hồi sinh và sự sáng tạo trong chuyển đổi kinh tế, trường học Huỳnh Thúc Kháng thể hiện triết lý giáo dục sáng tạo, không gian kiến trúc cảnh quan được xây dựng ngẫu hứng sáng tạo pha trộn kiến trúc phương Tây trên nền tảng truyền thống của không gian làng Vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bởi vậy, nếu khai thác giá trị làng cổ cho hoạt động sáng tạo sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho việc bảo tồn, khai thác phát triển văn hóa, du lịch” – Tiến sỹ Lê Quỳnh Chi (Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) cho biết.

Cùng với làng Cựu, những làng cổ thuộc xã Phượng Dực, Thượng Phúc… cũng là các địa danh nổi tiếng với nhiều giá trị văn hóa. Trong đó, xã Thượng Phúc là cái nôi của nhiều làng nghề, nổi bật là làng Đông Cứu với nghề thêu trang phục cung đình, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Ngoài ra, xã còn có các làng nghề truyền thống khác như thêu Quất Động, thêu Dũng Tiến, nghề dệt, nghề thợ nề Cống Xuyên…
Xã Phượng Dực nổi tiếng với những di sản văn hóa đặc sắc, tiêu biểu là nghề nặn tò he ở làng Xuân La – một di sản phi vật thể độc đáo với lịch sử khoảng 400–500 năm. Khiến nơi đây được coi là “cái nôi” của nghề nặn tò he. Bên cạnh những làng nghề, các di tích lịch sử văn hóa như đình, chùa, miếu mạo cũng là những minh chứng sống động cho quá trình hình thành và phát triển của mảnh đất này qua hàng trăm năm lịch sử. Các công trình kiến trúc cổ kính này không chỉ là nơi thờ tự, sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa cộng đồng phong phú.
Trao đổi với PV Dân Việt, PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội) nhận định: “Làng Cựu ở Phú Xuyên và nhiều làng ven trục quốc lộ 1 thực chất nằm trên “xương sống” của con đường thiên lý Bắc – Nam xưa – nơi suốt hàng trăm năm, dòng người, dòng hàng hoá, dòng văn hóa đã miệt mài chảy qua, để lại dấu ấn trong từng nếp nhà, cổng làng, giếng nước, mái đình.
Ở làng Cựu, người ta thống kê được hàng chục ngôi nhà, biệt thự với kiến trúc độc đáo, hơn 500 năm tuổi, xen trong không gian làng cổ đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ; Hà Nội đã từng hình dung một “Con đường di sản Nam Thăng Long” mà làng Cựu là một điểm nhấn quan trọng”.
Theo ông Bùi Hoài Sơn, giá trị của những làng cổ, di tích, di sản dọc trục quốc lộ – đường thiên lý Bắc Nam không chỉ là vài mái nhà cũ, vài bức tường rêu phong để chụp ảnh hoài cổ, mà là một “bảo tàng sống” về lịch sử đô thị hóa, về sự giao thoa Đông – Tây, về cách người Việt thích nghi với những làn sóng hiện đại hóa đầu thế kỷ XX, về ký ức thương mại, ký ức giao thông, ký ức sinh hoạt của cả một vùng đất.
Chia sẻ với Dân Việt, PGS.TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) cũng nhận định rằng, các làng cổ ở đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là những làng và di tích nằm dọc trục Bắc – Nam ở vùng ven Hà Nội đều có điều kiện hình thành rất đặc thù. Chúng nằm trên các tuyến đường thiên lý xưa, những con đường dài nghìn dặm nối từ kinh đô Thăng Long tới các chấn lị địa phương. Chính vị trí ấy khiến các làng hình thành sớm, trở thành những không gian văn hóa giàu dấu ấn lịch sử.
“Phải tính toán và đánh đổi”
Mới đây, theo phương án tuyến dự kiến được công bố, Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam sẽ cắt ngang qua khu vực tập trung nhiều công trình di sản của các làng cổ. Công văn số 514/UBND-KT của UBND xã Chuyên Mỹ nêu ra nhiều nguy cơ đối với việc bảo tồn di tích: “Tuyến đường sắt sẽ chia cắt không gian kiến trúc cảnh quan thống nhất của ngôi làng, phá hủy tầm nhìn, sự hài hòa và tính nguyên vẹn của một quần thể di sản đã tồn tại hàng trăm năm. Dự án trực tiếp ảnh hưởng, xóa sổ nhiều công trình nhà cổ còn lại của Làng Cựu.
Việc thi công và vận hành tuyến đường sắt (với rung chấn, tiếng ồn) sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp, có nguy cơ làm hư hại, xuống cấp hoặc thậm chí sụp đổ các công trình cổ có kết cấu yếu, vốn cần được bảo vệ trong môi trường yên tĩnh…”.
Trao đổi với PV Dân Việt về vấn đề này, ông Đặng Khánh Ngọc (Viện trưởng Viện Bảo tồn di tích, Bộ VHTTDL) cho rằng, tác động từ các dự án hạ tầng lớn như đường sắt cao tốc… là điều hiển nhiên đã được nhìn thấy khi bắt tay vào quy hoạch. Chắc chắn sẽ có những sự biến động và phá vỡ không gian truyền thống, sự “biến mất” của một số di tích, di sản và kiến trúc cổ truyền… Và vậy, khi xây dựng bất cứ dự án nào, bắt buộc phải có đánh giá tác động và đề xuất giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng đến di sản. Theo ông Đặng Ngọc Khánh, việc này phải được đánh giá trên cơ sở nghiên cứu tác động trực tiếp với sự tham vấn ý kiến các chuyên gia về bảo tồn, quy hoạch và đô thị.
Ông Đặng Khánh Ngọc nhận định, mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển luôn tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển của một quốc gia. Phát triển giao thông là nhu cầu không thể trì hoãn, nhất là tại Hà Nội và Việt Nam, nơi hạ tầng đang thiếu hụt và chưa đồng bộ. Trong khi đó, di sản là thứ không thể tái tạo lại được. Vì vậy, câu chuyện là tính toán mức độ đánh đổi chấp nhận được trong bối cảnh phát triển chung cần được tính toán rất kỹ lưỡng, thận trọng và khoa học.
Theo nhìn nhận của ông Đặng Khánh Ngọc, thế giới đã có nhiều mô hình có thể tham khảo.
“Một trong những giải pháp phổ biến tại những quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc là xây tuyến đường sắt chạy cao, tránh xâm phạm trực tiếp vào cấu trúc làng cổ và giảm ảnh hưởng lên cảnh quan.
Việc bảo tồn di sản không có công thức chung. Mỗi làng cổ, mỗi di tích đều có giá trị riêng, đòi hỏi giải pháp riêng. Mọi quyết định phải dựa trên thực tiễn của từng trường hợp cụ thể và chỉ khi bước vào quá trình xử lý chi tiết, phối hợp giữa các đơn vị chuyên môn, mới có thể tìm ra phương án phù hợp nhất”, ông Ngọc khẳng định.

Trong khi đó, PGS.TS Bùi Xuân Đính cũng cho rằng giá trị của những ngôi làng ở ngoại thành Hà Nội nói riêng, dọc đường thiên lý Bắc – Nam nói chung được người dân nhiều thế hệ bồi đắp qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Vì vậy, khi tuyến đường sắt mới đi qua và có nguy cơ tác động đến các di tích, chắc chắn sẽ có những mất mát khó tránh khỏi và là mất mát lớn. “Tuy nhiên, đây là dự án quốc gia, có tầm ảnh hưởng và tác động quan trọng, tích cực tới kinh tế – xã hội. Điều quan trọng là chúng ta cân nhắc, nghiên cứu, làm thế nào để giảm thiểu những mất mát đó” – ông chia sẻ.
Đồng ý với các quan điểm trên, nhà văn, nhà Hà Nội học Nguyễn Ngọc Tiến nhận định: “Việc dự án đường sắt Bắc Nam đi qua những ngôi làng cổ chắc hẳn sẽ mang lại một số thay đổi đáng tiếc. Tuy nhiên, vì mục tiêu lớn nhất là phát triển đất nước, việc này cũng cần được chấp nhận. Đương nhiên, vấn đề bảo tồn di sản vẫn nên được đặt ra và nghiên cứu kĩ lưỡng, nhằm gìn giữ những nét đẹp văn hóa của những địa danh này”.
“Xem di sản là nguồn lực, không phải gánh nặng”
“Khi bàn về những dự án hạ tầng lớn như đường sắt tốc độ cao hay cao tốc trên trục Bắc – Nam, điều đầu tiên cần nhắc đến không chỉ là chuyện bao nhiêu ki-lô-mét đường, bao nhiêu héc-ta đất bị thu hồi, mà là chúng ta đang đi qua những không gian ký ức rất đặc biệt của người Việt”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội) chia sẻ với Dân Việt.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, không nên coi di sản như những vật cản trên đường phát triển, mà là nhận diện chúng như một phần của hạ tầng phát triển – hạ tầng văn hóa, hạ tầng bản sắc – cần được đưa vào quy hoạch ngay từ đầu, song hành với hạ tầng giao thông. Khi nhìn như vậy, chúng ta sẽ thấy rõ: các làng cổ không đứng ngoài tiến trình hiện đại hóa, mà nếu được tôn trọng và đầu tư đúng mức, chúng sẽ trở thành điểm tựa mềm cho sự phát triển bền vững của chính những tuyến đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao đi ngang qua chúng”.
Bàn về vấn đề cân bằng giữa việc phát triển và bảo tồn, ông Bùi Hoài Sơn nhận định: “Không có quốc gia nào phát triển mà hoàn toàn không đối diện với những đánh đổi nhất định, nhưng điều quan trọng là chúng ta lựa chọn đánh đổi cái gì và giữ lại cái gì. Với di sản, đặc biệt là các làng cổ ven trục Bắc – Nam, bài toán hài hòa giữa bảo tồn và phát triển không phải là “hoặc – hoặc”, mà là tìm một cách tiếp cận mới, trong đó di sản không bị coi là vật cản, mà trở thành một phần của chính chiến lược phát triển”.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, muốn làm được ba điều này, có ba nguyên tắc then chốt cần đặc biệt lưu ý.
Thứ nhất, đặt bảo tồn vào quy hoạch ngay từ đầu, chứ không phải chờ có dự án rồi mới tính. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần điều chỉnh vài chục mét tuyến đường, nâng cao cầu cạn, hoặc thay đổi phương án thi công là có thể tránh gây tổn hại nghiêm trọng đến cấu trúc di sản. Nếu quy hoạch coi các làng cổ như “vùng trống” để mở đường, thì chắc chắn di sản sẽ bị tổn thương; còn nếu xem chúng là lớp “hạ tầng mềm” cần tích hợp, thì mọi quyết định kỹ thuật sẽ được tính toán theo hướng giảm thiểu tối đa tác động.
Thứ hai, bảo tồn không chỉ là giữ lại hiện vật, mà quan trọng hơn là gìn giữ cấu trúc không gian, cảnh quan, mối quan hệ giữa di tích – làng – sông – đường – cánh đồng. Một làng cổ có thể không cần giữ nguyên 100% kiến trúc, nhưng phải giữ được “hồn cốt”: trục làng, mật độ, chiều cao, vật liệu, không gian sinh hoạt cộng đồng. Việc phát triển hạ tầng phải dựa trên nguyên tắc “không phá vỡ tính toàn vẹn” của không gian di sản. Những giải pháp như hành lang bảo tồn, vùng đệm cảnh quan, thiết kế đô thị phù hợp với ngữ cảnh (context-based design) đang được nhiều nước áp dụng rất hiệu quả.
Thứ ba, coi cộng đồng là chủ thể bảo tồn, không phải là đối tượng bị “di dời” hoặc “thụ động tuân theo”. Cộng đồng là người hiểu rõ nhất giá trị làng mình, là người chịu tác động nhiều nhất nếu di sản bị phá nát. Vì vậy, họ phải được tham gia từ khâu khảo sát, lựa chọn phương án tuyến, giám sát thi công cho đến phương án sinh kế hậu dự án. Khi họ thấy mình được tôn trọng, được hưởng lợi từ việc giữ gìn di sản, thì quá trình bảo tồn mới thực sự bền vững.
Ông Bùi Hoài Sơn quan niệm phát triển và bảo tồn có thể song hành nếu chúng ta tiếp cận bằng tư duy mới: xem di sản là nguồn lực, không phải gánh nặng. Một tuyến cao tốc đi qua khu vực có làng cổ không chỉ là thách thức, mà còn là cơ hội để hình thành các “điểm dừng chân văn hóa”, các tuyến du lịch kết nối vùng ven đô với trung tâm, tạo sinh kế mới cho người dân.
“Điều quan trọng là chúng ta sớm xây dựng các bộ hướng dẫn kỹ thuật (guidelines) cho bảo tồn làng cổ trong bối cảnh phát triển hạ tầng; có cơ chế thẩm định chặt chẽ; và có trách nhiệm giải trình rõ ràng ở tất cả các khâu.
“Nếu làm tốt, chúng ta hoàn toàn có thể có những tuyến đường hiện đại băng qua những không gian văn hóa lâu đời mà không làm mất đi bản sắc – giống như nhiều nước đã làm. Khi đó, chúng ta không chỉ giữ lại ký ức, mà còn đưa ký ức ấy bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định.
×





























